Mao Trạch Đông - Những câu chuyện chưa được biết tới
Trương Nhung /Hồ Như Ý dich
Chương 57 Đặng Tiểu Bình buộc Mao phải nhượng bộ 1973~1976
Trong hai năm cuối đời của Mao Trạch Đông, trong giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xuất hiện một “phe đối lập” mạnh mẽ, với nhân vật trung tâm là Đặng Tiểu Bình. Sau khi Mao qua đời, Đặng tiến hành chính sách cải cách mở cửa, làm thay đổi hướng đi của Trung Quốc.
Đặng là người Tứ Xuyên, nhỏ hơn Mao mười một tuổi. Năm 1920, khi mới mười sáu tuổi, ông vượt biển sang Pháp tham gia chương trình “vừa học vừa làm”, và tại đó ông trở thành một người theo chủ nghĩa cộng sản, dưới sự lãnh đạo của Chu Ân Lai. Năm năm ở Pháp khiến ông yêu thích các món ăn Pháp như bánh sừng bò, rượu vang, phô mai. Nhiều năm sau, ông còn nhiều lần so sánh các quán cà phê ở Paris với các trà quán ở quê nhà Tứ Xuyên, và đặc biệt nhắc đến một quán cà phê nhỏ bên cạnh quảng trường Italie, nơi ông thường đến uống cà phê.
Những người Trung Quốc cùng sống ở Pháp khi ấy miêu tả ông là “một cậu bé Tứ Xuyên, lùn lùn, mập mập… lúc nào cũng nhảy nhót, chạy từ góc này sang góc kia nói đùa với người ta, rồi lại chạy sang góc khác pha trò với mọi người.” Mấy chục năm lăn lộn trong sự nghiệp chủ nghĩa cộng sản đã biến ông thành một người ít lời, vui buồn không lộ ra mặt. Tính ít nói có một lợi thế: ông thích họp ngắn. Sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc giành được giang sơn đại lục, ông phụ trách vùng Tây Nam rộng lớn; cuộc họp toàn thể đầu tiên của Ủy ban Quân chính do ông chủ trì chỉ tốn chín phút đồng hồ, hoàn toàn trái ngược với Chu Ân Lai, người từng nói suốt chín tiếng đồng hồ trong một cuộc họp. Có người nói phong cách của Chu là “nhẹ nói thành nặng”, còn Đặng thì “nặng nói thành nhẹ”. Đặng xử lý công việc rất quyết đoán; nhiều việc chính sự phức tạp được ông giải quyết ngay trên bàn đánh bài bridge.
Sau khi bị trục xuất khỏi Pháp, Đặng tới Liên Xô. Thời kỳ Trường Chinh, ông là Tổng thư ký Trung ương Đảng; trong kháng chiến chống Nhật Bản, ông là một trong những người chỉ huy cao nhất của Bát Lộ Quân; trong nội chiến Quốc - Cộng, ông lần lượt giữ chức Bí thư Uỷ ban mặt trận của Chiến dịch Hoài Hải và Chiến dịch Vượt sông Trường Giang, chỉ huy hai tập đoàn quân dã chiến. Trước khi hai chiến dịch này bắt đầu, Mao Trạch Đông đã nói với ông một câu ngắn gọn đầy tin tưởng: “Giao cho anh chỉ huy.” Từ giữa những năm 1950 trở đi, ông là “Tổng Bí thư” của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Đối với các chính sách của Mao, Đặng làm việc hết mình để thực thi chúng. Trong phong trào phản hữu khuynh, ông là cánh tay phải đắc lực của Mao. Nhưng trong thời kỳ Đại Nhảy vọt, Đặng lại phản đối các chính sách của Mao dẫn đến Nạn Đói lớn, ủng hộ Lưu Thiếu Kỳ. Mao để ý thấy ông né tránh mình, và nói: “Đặng Tiểu Bình từ trước đến nay chưa từng tìm tôi, từ năm 1959 đến nay, việc gì cũng không báo cáo với tôi.” Mao còn nói: “Đặng Tiểu Bình điếc, họp thì ngồi rất xa tôi. Sáu năm từ 1959, không báo cáo công việc gì với tôi.” Mao cảm thấy “Đặng Tiểu Bình đang giữ khoảng cách với tôi”.
Khi Mao phát động Cách mạng Văn hóa, ông từng cân nhắc để Đặng làm cánh tay phải, trái của mình. Nhưng Đặng không tán thành Mao phát động Cách mạng Văn hóa, vẫn giữ thái độ bình thản, không bị lay chuyển. Mao liệt ông thành “Kẻ đầu sỏ đứng thứ hai của phe đi theo Chủ nghĩa tư sản”, bị quản thúc tại gia, con cái và mẹ kế bị đuổi ra khỏi nhà. Đặng cũng bị đấu tố và lục soát nhà, nhưng không khắc nghiệt như Lưu Thiếu Kỳ, ông vẫn luôn có vợ bên cạnh. Việc Mao trừng phạt người khác được sắp xếp tỉ mỉ, tùy mức độ thù ghét. Mao nói: “Đặng Tiểu Bình phải bị phê bình”, nhưng “phải phân biệt ông ấy với Lưu Thiếu Kỳ.” Mao đánh giá cao năng lực của Đặng, để ông lại “dự phòng khi cần dùng tới”.
Ngay cả khi được “phân cấp đối xử”, thì đó vẫn là thảm họa. Tháng 5 năm 1968, con trai lớn của Đặng là Phác Phương, cùng một cô con gái bị bịt mắt bằng vải đen, đưa đến Đại học Bắc Kinh, ép buộc họ tố cáo Đặng Tiểu Bình. Tại trường đại học danh tiếng này, hơn sáu mươi người bị giam giữ, tra tấn đến chết hoặc tự sát. Phác Phương không chịu nổi nhục nhã, nhảy từ một toà nhà xuống đất, dẫn đến tàn tật suốt đời, từ ngực trở xuống mất hết cảm giác. Mãi một năm sau, Đặng và vợ mới nhận được tin. Vài ngày liên tiếp, vợ Đặng khóc không ngừng; sau đó bà nói với mẹ kế Đặng, rằng bà cảm thấy sống còn khổ hơn chết.
Tháng 10 năm 1969, vợ chồng Đặng Tiểu Bình bị lưu đày đến Giang Tây, nơi họ bị canh gác bởi những người có vũ trang và bị buộc phải làm việc hàng ngày tại một nhà máy sản xuất máy kéo. Trước khi rời Bắc Kinh, Đặng còn chưa kịp gặp Phác Phương đang tàn tật. Ở nơi lưu đày, có một ngày, con trai út từ nơi đang được “lên núi xuống nông thôn” đến thăm cha mẹ, gầy gò, da vàng, mặc quần áo rách rưới. Khi kỳ nghỉ kết thúc, người con trai phải rời đi vào một ngày mưa nhỏ. Đặng cảm thấy đau lòng, trong ngày đó mặt tái xanh, mồ hôi lạnh đầm đìa, ngã xuống sàn của nhà máy.
Tháng 6 năm 1971, Phác Phương bị tàn tật cuối cùng cũng được phép chuyển đến Giang Tây. Khi Đặng nhìn thấy con trai từng khỏe mạnh, nghịch ngợm của mình giờ trở nên tàn phế ra sao, nỗi đau của ông hiện rõ trên khuôn mặt. Mùa hè ở Giang Tây nóng ẩm khó chịu; sợ con bị loét vì nằm lâu, Đặng cùng vợ phải vài lần mỗi ngày giúp con lật người, tắm rửa cho con. Đây là công việc vô cùng vất vả, vì Phác Phương cao lớn, tên gọi thân mật là “Bàn Tử”.
Sau này, Đặng nói Cách mạng Văn hóa là những ngày đau khổ nhất trong đời ông. Một đêm nọ, ông hét lớn trong cơn ác mộng, đánh thức cả tòa nhà, mọi người tưởng xảy ra chuyện gì nghiêm trọng. Trong nỗi đau ấy, ông bắt đầu tự phản tỉnh. Kết quả là, sau khi Mao qua đời, ông loại bỏ những đường lối Mao đã thực hiện và thay đổi Trung Quốc. Trong thời gian lưu đày, ông âm thầm rèn luyện thân thể, chờ cơ hội trở lại trung tâm chính trị.
Cơ hội cuối cùng cũng đến: Đó là “Sự kiện 13 tháng 9. Phác Phương thường dùng radio sóng ngắn ở nhà để nghe đài nước ngoài. Khi ấy ở Trung Quốc, việc này có thể dẫn đến tù tội; chính Đặng trước đây cũng từng tham gia thực thi chính sách nghiêm ngặt này. Nhưng giờ đây, ông ngầm cho phép con trai “nghe đài địch”. Chính từ các chương trình phát thanh nước ngoài, gia đình Đặng đoán ra chuyện Lâm Bưu gặp biến cố.
Về thông tin này, chính quyền Mao truyền đạt xuống theo từng cấp. Hai tháng sau, Đặng nghe cùng công nhân nhà máy. Trong tài liệu có đề cập: “Lâm Bưu đã hãm hại các cán bộ lão thành.” Người đọc tài liệu nói: “Mao Chủ tịch không bao giờ hại đến các cán bộ lão thành. Lão Đặng đang ngồi đây, ông có thể làm chứng. Lão Đặng, ông nói có phải không?” Đặng Tiểu Bình ngồi yên, gương mặt không biểu cảm, lặng thinh.
Khi về nhà và đóng cửa phòng, ông phá vỡ thói quen trước đây là không bàn chuyện chính trị với người nhà; lần này, ông cũng trở nên phấn khích và hứng khởi như mọi người. Hai ngày sau, ông cầm bút viết cho Mao bức thư đầu tiên kể từ khi bị hạ bệ, xin được làm việc trở lại. Ông cảm thấy mình có cơ hội “phục hồi danh tiếng”: Lâm Bưu đã thất bại, và dường như Mao buộc phải phủ nhận Cách mạng Văn hóa.
Không có hồi âm. Tháng 5 năm sau, Chu Ân Lai được chẩn đoán mắc ung thư, Mao cũng không triệu tập Đặng về Bắc Kinh. Mao cố gắng đào tạo người kế nhiệm Chu trong số những kẻ hưởng lợi từ Cách mạng Văn hóa, và đã chọn thủ lĩnh phe tạo phản Thượng Hải Vương Hồng Văn. Vương khi đó 37 tuổi, nguyên là cán bộ bộ phận bảo vệ một nhà máy dệt, có ngoại hình điển trai và phần nào có sức lôi cuốn, nhưng không có năng lực quản lý đất nước. Mao cử máy bay đón anh ta về Bắc Kinh để bắt đầu huấn luyện, và một năm sau, tại Đại hội X của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao đưa Vương lên vị trí thứ ba, chỉ sau Chu.
Vương Hồng Văn rõ ràng không thể thay thế Chu. Khi Thủ tướng Úc Whitlam thăm Trung Quốc, ông gặp Vương tại nơi ở của Mao, và nhận thấy Vương căng thẳng đến mức không nói được một lời nào trong suốt buổi gặp; chỉ đến những phút cuối cùng mới bỗng dưng nói một câu lộn xộn vô nghĩa. Trong buổi gặp, Whitlam có nhắc tới “Khởi nghĩa Nam Xương” năm 1927, Chu Ân Lai thở dài nói rằng khi đó Vương còn chưa chào đời. Khi buổi gặp kết thúc, khi khách sắp ra về, Vương bỗng lo lắng và nói lên bằng giọng the thé: “Thủ tướng, ông nói khi Khởi nghĩa Nam Xương tôi còn chưa sinh ra, nhưng tôi cũng đã làm cách mạng rất lâu rồi.”
Một người như vậy đương nhiên không thể khiến Mao yên tâm. Đầu năm 1973, tình trạng bệnh của Chu ngày càng nặng. Mao buộc phải dùng Đặng. Ông mời Đặng về Bắc Kinh, trước tiên bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng, chủ yếu phụ trách tiếp đón người nước ngoài. Đặng không có phong thái như Chu Ân Lai; khi tiếp khách nước ngoài, ông thường nhổ nước bọt, khiến nhiều nhà lãnh đạo quốc tế cảm thấy bối rối, nhưng xét cho cùng, ông vẫn toát ra dáng dấp của một chính khách.
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét